Viet NamEnglish (United Kingdom)

Đối tác

 
Danh Mục Sản Phẩm
Sữa bột

 

  Bột ăn dặm

 

 


 

Aspirin trong phòng ngừa đột quỵ tiên phát và các biến cố mạch máu lớn-những siêu phân tích và giả thuyết

Roberg G. Hart, Jonathn L.Halperin, Ruth McBirde, Oscar Benavrnte, Malcolm Man-Son-Hing, Richard A, Keonmal: Aspirin for the Primary prevention of stroke and other major vascular events. Arch Neurol./vol.57, Mar 2000, p:326-331.

Người dịch: BS Bạch Thanh Thủy

Hàng trăm năm sau khi ra đời, aspirin là một thứ thuốc được dùng phổ biến nhất trên thế giới. Chỉ riêng ở Mỹ, khoảng 75000 pouns aspirin (khoảng 100 triệu viên) được tiêu thụ mỗi ngày. Khoảng 20% người Mỹ trên 65 tuổi dùng aspirin thường xuyên, phần lớn để giảm đau.Sử dụng thường xuyên aspirin làm giảm nguy cơ nhồi máu cơ tim (NMCT), đột quị (ĐQ) và tổn thương mạch máu ở những bệnh nhân có bệnh mạch máu biểu hiện trên lâm sàng (nghĩa là những người có nguy cơ cao). Một siêu phân tích có ý nghĩa gồm hơn 100 TNLS ngẫu nhiên (NN) bao gồm 60.000 người tham gia cho thấy rằng điều trị aspirin làm giảm ĐQ khoảng 25% ở những bệnh nhân có nguy cơ cao nhất. Thật là nghịch lý, trong siêu phân tích này dùng aspirin lại làm ĐQ tăng nhẹ trong 2 TNLS lớn phòng ngừa tiên phát (PNTP), mặc dầu các kết quả đã không có ý nghĩa thống kê. 8 triệu người Mỹ lớn tuổi không có bệnh mạch máu dùng aspirin thường xuyên, và vấn đề hiệu quả của aspirin đối với ĐQ ở những người này là rất quan trọng. Với thông báo mới đây của 4 nghiên cứu về hiệu quả của aspirin với ĐQ ở những người nguy cơ thấp, chúng tôi đã xem xét lại cẩn thận vấn đề này. Mục tiêu của chúng tôi là phát hiện hiệu quả của việc sử dụng thường xuyên aspirin đối với ĐQ và với các biến cố mạch máu lớn khác ở những người không có biểu hiện lâm sàng của bệnh vữa xơ mạch (nghĩa là PNTP).

SỐ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP

Chúng tôi cố gắng tìm kiếm tất cả các TNLS NN (TNLSNN) đánh giá hiệu quả của aspirin trong PNTP ĐQ và các biến cố mạch máu lớn khác ở những người không có biểu hiện bệnh lí mạch máu trên lâm sàng. Các bệnh mạch máu bao gồm: NMCT, ĐQ, cơn thiếu máu não thoảng qua, đau thắt ngực, khập khiễng cách hồi, rung nhĩ hoặc tái phân bố mạch máu trong động mạch chủ, động mạch vành hoặc động mạch ngoại vi trong vữa xơ. Các TNLS, trong đó tất cả những người tham gia có yếu tố nguy cơ vữa xơ cao (nghĩa là lớn tuổi, tăng huyết áp, bệnh tiểu đường) được chọn lựa, nhưng được cân nhắc tách riêng trong những phân tích bổ xung. Những TNLSø trong đó có trên 20% người tham gia có bệnh mạch máu, mà những người này không thông báo về hậu quả ĐQ và ĐQ không được theo dõi đều không đuợc phân tích. Những người có bệnh mạch máu đuợc tách ra cho những phân tích bổ xung. Những TNLS trong đó aspirin kết hợp với các yếu tố ức chế tiểu cầu khác cũng bị loại bỏ.

Các số liệu đã được tìm kiếm trên máy tính từ 1980-1989…

(một đoạn nói về cách sử lý số liệu- không dịch).

KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ ASPIRIN VÀ ĐQ TRONG CÁC THỬ NGHIỆM PHÒNG NGỪA TIÊN PHÁT NGẪU NHIÊN

5 TNLS NN bao gồm 52.251 người tham gia, tuổi trung bình là 57, những người này đã được điều tra để lấy 240.000 năm theo dõi bệnh nhân (patient-years observation), điều tra trung bình 4,6 năm/bệnh nhân. 3 TNLS chỉ có nam giới. Phụ nữ là 20% và chiếm 17% tổng số phát bệnh. Các đối tượng rất thay đổi ở các TNLS, từ những nam nhân viên y tế khỏe mạnh tới những bệnh nhân tiểu đường hoặc cao huyết áp hoặc những người đàn ông có nguy cơ mạch vành cao. Tỷ lệ tử vong từ 0,4-3%/năm, trung bình 1%/năm. So sánh với tỷ lệ chết ở Mỹ cho đàn ông và đàn bà tuổi từ 55-59, trung bình là 0,7% và 0,4%/năm. Mặc dù những thử nghiệm PNTP được cân nhắc, khoảng 5% người tham gia (dao động từ 1-20%) có biểu hiện bệnh mạch máu trên lâm sàng. Liều aspirin đã dùng 75mg/ngày (21.330 người), 325mg cách ngày (22.071 người) và 500-650mg/ngày (8.850 người) (bảng 1). Tỷ lệ ĐQ được phân tích tổng quát cho 5 TN này là 0,3%/năm (dao động từ 0,2-0,8%) (bảng 2).

Bảng 1: Các TNLSNN về điều trị aspirin trong PNTP

Nguồn thông tin Cỡ mẫu (người) Bệnh kèm theo Tuổi TB Liều aspirin (mg/d) Phụ nữ (%) Tỷ lệ cao HA(%) Tỷ lệ TV %/năm
USPHS-1989 22071 TT nam khoẻ mạnh 53

325/ cách ngày

0 12 0,4
Britis male physicians-1988 5139 TT nam ~61 500 0 10 1,6
ETDRS-1992 (†) 3711 BN tiểu đường ~50 650 44 44 3,0
MRC-TPT-1998 2540 Có yếu tố nguy cơ mạch vành 57 75 0 NR 1,3
HOT-1998 18970 BN cao HA

BÀN LUẬN

Phân tích tổng quát 5 TNLS NN gồm hơn 50.000 người tham gia điều trị thử aspirin để PNTP thấy rằng không có hiệu quả toàn diện trên ĐQ, một kết quả không phù hợp với tác dụng rõ rệt của aspirin làm giảm 25% ĐQ ở những người có bệnh mạch máu. Nếu như tác dụng của aspirin phụ thuộc vào sự hiện diện của bệnh mạch máu biểu hiện trên lâm sàng, thì sau đó có thể tồn tại hợp lý một nhóm bệnh nhân trung gian: nhóm này có yếu tố nguy cơ mạch máu nhưng không biểu hiện bệnh. Trong khi những số liệu có giá trị có thể bị bác bỏ bởi sự khác biệt trong liều aspirin và sự phân chia giới tính, chúng cũng ủng hộ giả thuyết rằng ở những người có yếu tố nguy cơ mạch máu, hiệu quả của aspirin trên ĐQ có thể trung gian giữa những người có bệnh mạch máu và những người không có bệnh mạch máu và cũng không có yếu tố nguy cơ bệnh mạch máu (tranh 2)

Trong 4 nghiên cứu quan sát, việc sử dụng thường xuyên aspirin kết hợp với tăng nguy cơ ĐQ ở cả đàn ông và đàn bà là đáng chú ý. Dùng aspirin trong những nghiên cứu này là tự chọn rộng rãi và có thể bị nhầm lẫn do sự phân bố không đều của những người tham gia bị ĐQ khác mà không thể loại trừ, thậm chí sau khi đã điều chỉnh về mặt thống kê cho những khác biệt đã được ghi nhận này. Xem xét bối cảnh của những so sánh NN, dường như những nghiên cứu quan sát này làm tăng giả thuyết về sự kết hợp giữa liều cao aspirin dùng để giảm đau và ĐQ ở người lớn tuổi và những phụ nữ không có biểu hiện bệnh mạch máu, điều này đã không thể hiện đúng mức trong các TNLS NN cho đến ngày nay.

Đáng chú ý rằng không có sự giảm nhồi máu não như mong đợi trong những TNLS NN PNTP. Bên cạnh ức chế thromboxan tiểu cầu là nền tảng cho tác dụng chống huyết khối của aspirin, có thể có các tác dụng cạnh tranh khác của aspirin. Đã có thông báo về việc điều trị aspirin làm tăng huyết áp (đặc biệt nếu huyết áp đo khi bệnh nhân nằm ngửa) và hiệu quả đối kháng với một vài loại thuốc hạ áp khác. Cao huyết áp là một yếu tố rất nguy hiểm phổ biến cho cả nhồi máu não và xuất huyết não. Tác dụng về đông máu của aspirin có thể liên quan với việc ức chế tổng hợp prostacyclin nội mạch đã được thực nghiệm chứng minh, đặc biệt với liều cao. Trong những bệnh nhân không có triệu chứng bệnh vữa xơ mạch, sự ức chế tổng hợp prostacyclin có thể đưa đến huyết khối (the aspirin dilemma), nhưng mối quan hệ lâm sàng của tác dụng này trong điều trị aspirin thì chưa được biết.

Điều trị aspirin làm giảm 25% NMCT và xu hướng chắc chắn giảm tất cả các nguyên nhân tử vong, có cần thiết sử dụng aspirin thường xuyên cho những người lớn tuổi khoẻ mạnh không? Trong số những người lớn tuổi khoẻ mạnh (không ghi nhận bệnh mạch máu), tần suất ĐQ bằng hoặc lớn hơn NMCT, với những người trẻ hơn thì ngược lại. Rõ ràng rằng điều trị aspirin làm tăng chảy máu ngoài sọ nghiêm trọng với RR (relative risk) trung bình bằng 1,5 trong những TNLS dùng liều giữa 75mg/ngày và 325mg/cách ngày. Tỷ lệ xuất huyết ngoài sọ nghiêm trọng ở những bệnh nhân dùng giả dược thay đổi giữa các TNLS PNTP ở những người trung tuổi (0,15%-0,5%/năm) một phần do các tiêu chuẩn khác nhau. Nguy cơ xuất huyết ngoài sọ nghiêm trọng khi dùng aspirin có thể liên quan với tuổi.

Ở những người không biểu hiện bệnh mạch máu, phân tích lợi hại của việc điều trị aspirin rất phức tạp và cần phải cân nhắc kỹ giữa một bên là giảm NMCT và một bên là tăng nhẹ chảy máu trong và ngoài sọ. Theo chúng tôi, tác dụng của việc thường xuyên sử dụng aspirin trong PNTP các biến cố mạch máu ở người lớn tuổi khoẻ mạnh đã không được đánh giá đầy đủ để cho phép giới thiệu dùng rộng rãi. Các tư liệu có giá trị rõ ràng ủng hộ việc dùng aspirin ở người trung tuổi đặc biệt với nguy cơ NMCT. Những tiêu chuẩn riêng và kinh nghiệm có ý nghĩa quan trọng trong việc cân nhắc lợi hại.

Một số giới hạn của những phân tích này có thể bàn luận. Một phần những người tham gia trong 5 TN PNTP được ghi nhận có bệnh mạch máu (bảng 1) và người ta không rõ họ đã ảnh hưởng tới đánh giá của chúng ta về hiệu quả của điều trị aspirin trong những người không có bệnh mạch máu như thế nào. Đánh giá tầm quan trọng của yếu tố nguy cơ mạch máu đã bị nhầm lẫn do sự phân biệt dựa trên liều aspirin và giới tính; điều này chỉ có thể loại trừ được khi có kết quả của Trung tâm nghiên cứu sức khoẻ phụ nữ. Những hạn chế khác thường là những hạn chế thông thường đối với các siêu phân tích: Kết quả tổng quát của một số nghiên cứu có ý nghĩa thống kê khi tất cả các TNLS riêng biệt đều có ý nghĩa thống kê chắc chắn; khi ngược lại, ta nên xem xét sự phát sinh giả thuyết và bằng chứng không chắc chắn. Chúng tôi đã cố gắng tìm tất cả những TNLS thích hợp, mặc dù vậy không chắc chắn là đã không bỏ sót các TNLS lớn, việc bỏ sót có thể làm thống kê sai lệch.

KẾT LUẬN

Hiệu quả của aspirin với ĐQ có thể khác nhau dựa trên việc có hoặc không có bệnh vữa xơ mạch máu. Hiệu quả của việc sử dụng thường xuyên aspirin để PNTP các biến cố mạch máu ở người lớn tuổi thìø chưa được hiểu biết hết vì các TNLS NN gồm phần lớn những người trung niên, mà những người này thì thường dễ bị NMCT hơn là bị ĐQ. Sử dụng aspirin lâu dài làm tăng nhẹ tỉ lệ xuất huyết não (khoảng 1/2000 người dùng aspirin/năm ở người lớn tuổi). Vì tác dụng làm giảm NMCTû chắc chắn với giới hạn liều rộng nên aspirin trong PNTP có thể cần thiết nhất cho những người trung niên,những người có nguy cơ đặc biệt với NMCT (thí dụ những bệnh nhân bị bệnh tiểu đường). Những tài liệu mới đây thường ưa dùng liều aspirin thấp (75-81mg/ngày) cho PNTP. Tác dụng của aspirin trên ĐQ là rất phức tạp, khác nhau ở những nhóm bệnh nhân khác nhau, và những hiểu biết về cơ chế khác biệt này có thể cho phép sử dụng tinh tế hơn thứ thuốc được dùng rộng rãi nhất này.

 TÁC DỤNG CỦA ASPIRIN VẪN KHÓ ĐÁNH GIÁ TRONG PHÒNG NGỪA ĐQ TIÊN PHÁT
(Bài của ban biên tập)

HJM Barnett, Michael Eliasziw: Aspirin benefit remains elusive in primary stroke prevention. Arch Neurol./vol.57, May 2000, p:306-308.

Người dịch: BS Bạch Thanh Thủy

Dường như những câu hỏi đơn giản về aspirin vẫn chưa có câu trả lời mặc dù các nhà lâm sàng đã nghiên cứu trong nhiều thập niên. Chẳng bao lâu nữa, 35 năm sẽ trôi qua từ khi những tính chất ức chế tiểu cầu của aspirin được thông báo, 25 năm từ khi thử nghiệm phòng ngừa bệnh thứ phát đầu tiên, và 10 năm từ khi những thông báo bất lợi về PNTP của aspirin được thông báo. Hàng nghìn bệnh nhân đã được chọn NN trong các nghiên cứu phòng ngừa ĐQ tiên phát và thứ phát, nhưng câu hỏi quan trọng vẫn còn tồn tại.

Trong số phát hành này của tạp chí Archivers, Hart và CS đã đóng góp đầu tiên bằng một siêu phân tích các thử nghiệm dùng aspirin cho những người không triệu chứng, 2 TN gồm những người không có bệnh mạch máu được biết, 3 TN gồm những người có nguy cơ cao.

Kết luận: Aspirin không có hiệu quả PNTP ở nam giới không có triệu chứng hoặc nguy cơ bệnh mạch máu cao, và có hiệu quả ở những người không triệu chứng nhưng có nguy cơ cao hơn và có khả năng phòng ngừa ĐQ thứ phát. Những kết luận này thật đáng khích lệ. Các cách điều trị khác cũng đã mang lại những ích lợi to lớn hơn cho những người có nguy cơ cao nhất. Ví dụ, ở Bắc Mỹ và Châu Âu người ta đã thử nghiệm cắt bỏ lớp áo trong động mạch ở những người có nguy cơ cao nhất và thấy có tác dụng nhất ở nhóm người này.

Phải chăng số liệu đã được Hart và CS xem xét và những kết luận đã bác bỏ việc coi aspirin như là một công cụ phòng ngừa ĐQ tiên phát? Liệu có phải aspirin với liều bất kỳ sẽ phòng ngừa được ĐQ ở những người khoẻ mạnh bất kỳ không?

Trong những thập niên khi mà cả hai giới có nhiều khả năng bị ĐQ nhất, người ta không thấy bằng chứng về ích lợi của aspirin cho những người không có bệnh mạch máu. Chỉ trong những TN NN lớn aspirn được so sánh với giả dược, ở Hiệp hội nghiên cứu sức khoẻ thầy thuốc, tuổi trung bình của những người tham gia là 53. Tất cả là đàn ông, ở thập niên mà họ thường bị NMCT, chứ không phải dễ bị ĐQ nhất. Trong những nghiên cứu khác tuổi trung bình được xem xét vẫn chỉ là 57. Những bằng chứng có sức thuyết phục về tác dụng bất lợi của aspirin thì không liên quan với lỗi thuộc về thống kê, cần có một thử nghiệm trực tiếp ở cả nam và nữ (nữ nhiều hơn nam 10 năm hoặc thậm chí hơn 15 năm).

Sự hiểu biết về ĐQ mà không để ý đến nguyên nhân của nó đã thúc đẩy sự quan tâm trong những TN điều trị. Người ta có thể phân biệt ĐQ động mạch lớn, động mạch nhỏ (lỗ khuyết) hoặc ĐQ do những nguyên nhân từ tim. Các tác nhân chống đông máu thì hiệu quả với ĐQ không giống nhau. Aspirin đã chứng tỏ được khả năng phòng ngừa nhồi máu não và ít có khả năng phòng ngừa ĐQ do nghẽn mạch từ tim. Sự phê phán hướng về tác dụng bất lợi của aspirin do Trung tâm thử nghiệm ĐQ quốc tế bởi vì ĐQ đã không được phân loại theo nguyên nhân. Tác dụng có lợi của điều trị chống đông có thể đã được nhận rõ nếu trong TN này đột quị được phân loại theo nguyên nhân. Hiệu quả của aspirin với ĐQ nguồn gốc từ tim có thể đã đưa đến một phát hiện riêng biệt. Một nghiên cứu hồi cứu cho thấy trong 216 thầy thuốc nam bị ĐQ trong TN của Hiệp hội nghiên cứu sức khoẻ thầy thuốc, đã có 181 người bị ĐQ không phải do xuất huyết: 63 (43%) do cục nghẽn, 49 (17%) là do huyết khối động mạch lớn, 58 người không thể phân biệt rõ là nhồi máu hay xuất huyết. 9 người đã không được biết (unknoun). 49 người ĐQ là quá ít để kiểm tra hiệu quả của điều trị aspirin.

Trong thử nghiệm của hiệp hội nghiên cứu sức khoẻ thầy thuốc gồm những người đàn ông trẻ hơn (tuổi trung bình là 53), trong số 11034 người dùng giả dược có 98 người (0,9%) bị ĐQ. So sánh với thử nghiệm của những thầy thuốc nam người Anh (tuổi trung bình là 61), trong số 1710 người không dùng aspirin có 39 người (2,3%) bị ĐQ. Trong thử nghiệm Anh, cả hai loại ĐQ là111 người, chỉ có 28 người bị ĐQ thiếu máu não, 83 người không được xác định rõ nguyên nhân. Kết luận về điều trị là rất khó khi mà nguyên nhân ĐQ không dược định rõ.

Aspirin có thể không hoạt động như nhau trên tất cả các giường động mạch đối với chứng nghẽn mạch do huyết khối. Tuyên bố rằng "huyết khối là huyết khối trong giường mạch máu bất kỳ" là một giả thuyết trong siêu phân tích của Hiệp Hội Những Nhà Thử Nghiệm Thuốc Ức Chế Tiểu Cầu (Antiplatelet Trialists’ collaboration). Những giả thuyết như vậy đã được làm trong thử nghiệm mới đây với yếu tố ức chế tiểu cầu clopidogrel. Các bệnh nhân với triệu chứng ở 3 cơ quan đích đã được phân biệt rõ ràng: tác dụng bất lợi trong 6302 bệnh nhân tuổi trung bình 58 tham gia sau khi bị NMCT, không có hiệu quả rõ rệt trong 6431 bệnh nhân tuổi trung bình 65 tham gia sau khi bị nhồi máu não, hiệu quả rõ rệt trên 6462 bệnh nhân tuổi trung bình 64 với bệnh thứ yếu. Hiệu quả khác biệt đã được nhận thấy trong TN của hiệp hội nghiên cứu sức khoẻ thầy thuốc: tác dụng 42% trong NMCT, không tác dụng trong ĐQ. Tất cả 3 nhóm có nguy cơ cao trong bài báo của Hart và CS, mà trong đó liều aspirin hàng ngày là 75mg,75mg và 650mg đã được xem xét thực nghiệm làm giảm NMCT, nhưng không làm giảm ĐQ. Giả thuyết về sự bình đẳng đối với các giường mạch máu trở nên khó được tin tưởng.

Liều tối đa aspirin trong cả hai PNTP và thứ phát đã là chủ đề để tranh luận. Ở mức độ nhất định, số phát hành này đã thống nhất là liều thấp. Bài báo của Hart và CS đã giới thiệu liều aspirin 81mg/ngày cho PNTP các biến cố mạch máu, phòng ngừa các biến cố khác khác liều còn chưa rõ ràng. Sự tranh luận làm tăng hiểu biết vì hai lý do. Thứ nhất, đã có mối liên quan với dung nạp dạ dày ruột ở liều cao, thứ hai, các nhà nghiên cứu trong thử nghiệm kháng đông đã không thiết kế những nghiên cứu trong tương lai để cho thấy hiệu quả ức chế tự phát của aspirin trên men cyclooxygenase trong tiểu cầu và trên tế bào nội mạch: hoạt động đông máu bị ức chế bởi tác dụng ức chế tự phát của aspirin trên men cyclooxygenase trong tiểu cầu và hoạt động kháng đông bị ức chế bởi tác dụng ức chế tự phát của aspirin trên tế bào nội mạch. Liều aspirin trong những TN sớm này được giới hạn từ 900-1300mg/tuần, liều cao hơn gây huyết khối thực nghiệm, giả thuyết rằng huyết khối có thể xuất hiện ở những người dùng liều 1300mg, một số thử nghiệm sử dụng liều thấp trong những bệnh nhân đe dọa NMCT và ĐQ.

Hiệu quả rõ rệt nhất của aspirin xuất hiện ở những bệnh nhân nguy cơ cao với đau ngực không ổn định. Liều 81-1300mg/ngày dã được chứng minh có hiệu quả như nhau trong phòng ngừa NMCT. Hiệu quả bị giới hạn bởi nguy cơ: trong nghiên cứu của Anh, nhóm dùng giả duợc nguy cơ ĐQ hàng năm chỉ bằng một nửa ở nhóm thử nghiệm dùng liều aspirin lớn hơn (1200). Liều được so sánh với giả dược là 300mg hoặc 1200mg, không có sự khác biệt quan trọng giữa các liều, và nhóm dùng giả dược thì ít tác dụng.

Các siêu phân tích đã được sử dụng để cố gắng tìm kiếm hiệu quả phòng ngừa ĐQ , và cũng thay thế cho bằng chứng trực tiếp về liều tối đa. Các siêu phân tích cũng đã khẳng định tác dụng của các yếu tố ức chế tiểu cầu trong bệnh mạch máu. Điều này cũng thấy từ những TN lớn không phân biệt nguyên nhân của ĐQ. Cả hai phương pháp đều có thể che lấp thông tin của các bệnh nhân nhóm phụ đặc biệt. Một thông báo mới đây gồm những siêu phân tích của 14 thử nghiệm đã xác định rằng calcium phòng ngừa chứng co giật. Một thử nghiệm lớn kế tiếp giới hạn ở những người phụ nữ khoẻ mạnh không dùng calcium. Các siêu phân tích được phân chia theo nguy cơ, hiệu quả đã được tìm thấy trong các nhóm có nguy cơ cao chứ không phải trong nhóm nguy cơ thấp. Bàn luận khuyến cáo về sự lạm dụng của các siêu phân tích đã xuất hiện trong số mới đây của những tạp chí quan trọng. Bị phê phán bởi tạp chí Lancet, "các siêu phân tích không thể luôn luôn đúng, kết luận lâm sàng của nó cũng không thể vượt quá thiết kế thử nghiệm đầu tiên". Chúng tôi lo lắng về liều thuốc được đưa ra bởi mỗi một siêu phân tích hoặc bởi các thử nghiệm lớn với những kết qủa tác động rộng lớn.

Bị ảnh hưởng bởi kết quả từ các nghiên cứu tim mạch, bởi sự hiểu biết trọn vẹn về sự ức chế kết tập tiểu cầu với liều nhỏ đơn độc và với sự tham gia của những biến chứng có liên quan với liều lượng, những thử nghiệm mới đây phần lớn dùng liều nhỏ. Thử nghiệm của Hiệp hội nhiên cứu sức khoẻ thầy thuốc đã sử dụng liều 325mg cách ngày và hiệp hội nghiên cứu sức khoẻ phụ nữ đã dùng 100mg cách ngày so sánh với giả dược. Vì tỉ lệ bệnh tim mạch ở đàn bà thấp hơn đàn ông rất nhiều, 40.000 nữ điều dưỡng sau mãn kinh đã đang được tìm kiếm. Những người phụ nữ bị ĐQ hoặc NMCT thường sau những người đàn ông cùng lứa tuổi 10 năm. Nếu như trong những TN này, aspirin không có hiệu quả trong phòng ngừa ĐQ, câu hỏi về tuổi, liều và sự không chắc chắn về nguyên nhân ĐQ có thể thừa nhận như là một bằng chứng rằng ĐQ không thể ngăn chặn được ở những người phụ nữ không triệu chứng trong những thập niên mà họ có nguy cơ cao nhất.

Aspirin đã trở thành đối lập chuẩn cho việc đánh giá các tác nhân ức chế tiểu cầu phòng ngừa ĐQ mới mà không có liều tối đa được tán thành. Ví dụ, trong kiểm tra hiệu quả của ticlopidine hydrocloride, 1300mg aspirin đã được dùng, với clopidogrel người ta sử dụng 325mg aspirin .

Có thể có liều tối ưu chuẩn bằng cách so sánh trực tiếp từ thử nghiệm tìm kiếm tác dụng kết hợp bằng cách thêm dipyridamole vào điều trị aspirin. 3 thử nghiệm mới đây gồm 1774 bệnh nhân toàn bộ 900 tới 1300mg cho thấy không có tác dụng kết hợp. Thử nghiệm gần đây nhất với 6602 bệnh nhân nhưng với liều aspirin bằng 1/20 của 3 TN trên, hiệu quả của sự kết hợp được khẳng định. Cơ hội kiểm tra tác dụng của hai liều aspirin đã không được quan tâm. Thay vào đó một liều không bao giờ cho thấy có hiệu quả so sánh với giả dược trong phòng ngừa ĐQ (25mg hai lần mỗi ngày) đã được dùng. Thử nghiệm lớn này kết hợp cùng với Hiệp Hội Thử Nghiệm Phòng Ngừa cơn thiếu Máu Não Thoảng Qua Liên Hiệp Anh đưa ra số lượng người tham gia lớn nhất trong những siêu phân tích mà nó cho phép Trung tâm quản lý thuốc và lương thực được quyền sản xuất để khẳng định rằng điều trị aspirin liều thấp sẽ phòng ngừa ĐQ. Những nhà quan sát khác thì hoài nghi hơn. Dyken đã phê phán rằng " thử nghiệm này không chứng minh rằng dipyridamole với sự kết hợp bất kỳ thì tốt hơn aspirin với liều bất kỳ", điều này gợi ý rằng "dipyridamole có thể có hiệu quả với aspirin liều rất thấp".

Việc không dung nạp điều trị aspirin là một lý do để chấp nhận liều hiệu quả thấp nhất. Trong Hiệp Hội Thử Nghiệm Cắt Bỏ Lớp Áo Trong ĐM Cảnh Triệu Chứng Bắc Mỹ tất cả các bệnh nhân đã đáp ứng với aspirin được bao tan trong ruột và dã dùng từ 325mg-1300mg/ngày, trung bình là 600mg (Hiệp Hội Thử Nghiệm Cắt Bỏ Lớp Áo Trong Động Mạch Cảnh Triệu Chứng Bắc Mỹ, Richard Muson, MD, số liệu không được công bố, 1997).Không dung nạp thuốc do yếu tố dạ dày ruột chiếm 1/3 trong hiệp hội Thử nghiệm aspirin ở Canada, ở đó aspirin đã được dùng thường xuyên. Trong 11400 bệnh nhân-năm của những TN phát triển về sau, xuất huyết trong sọ, nhồi máu xuất huyết và những vết thương gây tụ máu không bình thường, tất cả đều liên quan đến liều. Đã có một xu hướng, dù thiếu ý nghĩa thống kê, cho biết 650-1300mg đã làm cho chảy máu dạ dày ruột nghiêm trọng hơn. Xuất hiện một trường hợp : bệnh nhân đã uống 325mg aspirin và chảy máu dạ dày ruột gây tử vong. Bằng chứng đã được công bố về biến chứng dạ dày ruột nghiêm trọng mà tất cả các dạng điều trị aspirin đều có khuynh hướng bị là không thuyết phục dựa trên một thiểu số người dùng thuốc với lớp bọc có thành phần khác nhau. Những quan sát của Hiệp Hội Thử Nghiệm Cắt Bỏ Lớp Áo Trong Động Mạch Cảnh Triệu Chứng Bắc Mỹ thì có thể tin cậy nếu aspirin được nghiên cứu và so sánh lớn hơn với liều nhỏ hơn.

Liều aspirin tối đa trong chiến lược phòng ngừa ĐQ vẫn chưa được biết là luận điểm của chúng ta. Liều có tính chất quan trọng. Nếu chúng ta tiếp tục dùng liều thấp cho phòng ngừa thứ phát, chúng ta có thể phủ nhận tác dụng lớn hơn cho những bệnh nhân mà những người này với một liều lớn hơn có thể là tốt nhất. Việc dùng liều thấp như là đối lập chuẩn để kiểm tra những thuốc mới có thể làm cho kết luận sai lầm và dẫn đến việc sử dụng những thuốc đắt tiền với tác dụng phụ nguy hiểm khi một thứ thuốc cũ và được biết với tác dụng phụ vừa phải có thể có tác dụng tương đương.

Trong số phát hành này, liều tối đa và những người tham gia lý tưởng cho nghiên cứu vẫn còn chưa ổn định. Còn tồn tại các ý kiến khác biệt rõ rệt. Nhà thơ Roberg Graves diễn tả:"con người cùng nhìn lên bầu trời, có người nhìn chỉ thấy mây đen, có người thấy những ngôi sao".

Cần có hai TN NN quyết định để rửa sạch mây đen. Thử nghiệm thứ nhất nên gồm đủ số lựơng, gồm cả nam và nữ không có bệnh mạch máu, tuổi giới hạn cho nam thấp hơn là 65, tuổi của nữ xu hướng lớn hơn nam 10 tuổi. TN thứ hai nên bao gồm những bệnh nhân bị thiếu máu não thoảng qua và ĐQ nhỏ. aspirin tan trong ruột với liều khác nhau nên được dùng ngẫu nhiên trong cả hai thử nghiệm.

(Có 2 trang vẽ minh họa, không trình bày ở đây) 

Bạn đọc có thể tham khảo thêm bài tổng quan của BS Lê Văn Nam.

Từ khóa: aspirin , dot qui , dot quy , tai bien mach mau nao , du phong

 

 

Số lượt truy cập

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterToday11
mod_vvisit_counterYesterday49

Sản phẩm mới

Sản phẩm dinh dưỡng công thức dành cho trẻ 0-12 tháng tuổi

Sản phẩm dinh dưỡng công thức dành cho trẻ 0-12 tháng tuổi

Sản phẩm dinh dưỡng công thức dành cho trẻ 12-36 tháng tuổi

Sản phẩm dinh dưỡng công thức dành cho trẻ 12-36 tháng tuổi

 

 


 

Hoàng Dương Pharma TV

You must have the Adobe Flash Player installed to view this player.

Hỏi đáp

Đẳng cấp của sữa Wakodo tại Việt Nam

Đẳng cấp của sữa Wakodo tại Việt Nam

 Hỏi: Sữa Wakodo tại Việt nam do công ty TNHH DP Hoàng Dương nhập khẩu có phải là sữa của hãng ...

Tỷ lệ Whey/ Cacein và Alpha-lactabumin/ Beta-lactoglobulin của sữa Wakodo HaiHai là bao nhiêu?

Tỷ lệ Whey/ Cacein và Alpha-lactabumin/ Beta-lactoglobulin của sữa Wakodo HaiHai là bao nhiêu?

 Hỏi:  Tỷ lệ Whey/ Cacein và alpha-lactalbumin / beta-lactoglobulin của sữa Wakodo HaiHai ...

Sữa nóng và mát

Sữa nóng và mát

 Hỏi: Con tôi được 8 tháng tuổi. Cháu ăn có uống sữa ngoài kết hợp sữa mẹ. Cháu hay bị táo bón....

Các câu hỏi về táo bón

Các câu hỏi về táo bón

Hỏi: Cháu nhà tôi được 3 tháng tuổi, Cháu bị táo bón 3-4 ngày mới đi một lần, phân cứng. Sau kh...

Sữa nhạt và ngọt

Sữa nhạt và ngọt

 Hỏi: Con  tôi được 6 tháng tuổi. Tôi mới cho cháu dùng thêm sữa ngoài kết hợp với sữ...